""> MINH HIẾU'S BLOG

Tên đề tài : PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM MÔN TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG THPT

06:37 |
Tên đề tài : PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM MÔN TIẾNG ANH
                                                       TRONG TRƯỜNG THPT

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I . ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Trong tình hình hiện nay, đất nước trên con đường đổi mới, chính sách mở cửa quan hệ với các nước trên thế giới đang tăng lên nhanh chóng. Việc giao tiếp rộng rãi với các nước trên thế giới bằng tiếng Anh ngày càng được quan tâm hơn. Phương pháp dạy học ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp CLT (Communicative Language Teaching) cũng theo đó được cho là hiệu quả. Người học và người dạy đều hướng tới mục đích cuối cùng đó là giao tiếp. Khả năng giao tiếp được thể hiện trên hai bình diện: Tiếp nhận và sản sinh ngôn ngữ. Để tiếp nhận chính xác chúng ta cần học nghe và đọc. Để diễn đạt ý của mình chúng ta cần học cách nói và viết.
Ngữ âm là điều gây ấn tượng đầu tiên và quan trọng nhất khi ai đó nói Tiếng Anh. Trên thực tế, các em học sinh ở trường THPT có thể rất giỏi về ngữ pháp, có một vốn từ vựng khá phong phú, nhưng việc phát âm của các em lại quá khiêm tốn thì thật khó để làm cho người đối thoại có thể hiểu các em nói gì. Thực tế cho thấy, không dễ dàng gì để mà hầu hết các em học sinh có thể nắm bắt tường tận kỹ năng phát âm Tiếng Anh trong một thời gian ngắn. Đối với giáo viên dạy Tiếng Anh thì việc kết hợp dạy bốn kỹ năng “nghe, nói, đọc, viết” là việc làm không thể thiếu. Muốn giúp cho học sinh nói đúng, phát âm đúng một từ, nói đúng ngữ điệu của một câu, thì thầy cô giáo cần phải có thủ thuật dạy học nhằm làm cho học sinh dễ nhớ, dễ so sánh, dễ nhận ra và vận dụng tốt vào thực tế. 
Trong thực tế giảng dạy, chương trình sách giáo khoa cải cách được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và sử dụng hiện nay, học sinh được học các kỹ năng nghe nói cùng với kỹ năng đọc viết. Bốn kỹ năng này được kết hợp tương tác với nhau, nhưng trong kỳ thi cuối cấp thì học sinh chủ yếu làm bài thi bằng bài viết. Đó có thể là lý do mà hầu hết các giáo viên thường không chú trọng nhiều đến việc dạy học sinh kỹ năng phát âm hoàn hảo. Hầu hết học sinh rất đối phó với nội dung này vì chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của phát âm cộng với hạn chế khách quan về môi trường giao tiếp là hầu như không có. Về phía giáo viên, đây cũng là nội dung dạy mới mà khi còn học ở chương trình phổ thông (cũ) chưa được tiếp cận. Đến khi học đại học, thì các chương trình dạy ở Đại học cũng không chuyên sâu về ngữ âm. Hơn nữa, đội ngũ giáo viên dạy Tiếng Anh THPT hiện tại cũng không có một tài liệu chuẩn để dạy ngữ âm nên  phải tự tìm tòi nghiên cứu để phục vụ cho việc giảng dạy phát âm của  mình nên không tránh khỏi những khó khăn. Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy cho học sinh bộ môn Tiếng Anh nên tôi cũng rất mong muốn được chia sẻ với tất cả các thầy cô giáo, đồng nghiệp về việc dạy phát âm cho học sinh và cũng rất tâm huyết để giúp học sinh cải thiện kỹ năng phát âm của mình. Đây cũng chính là lý do tại sao tôi chọn đề tài: “ Phương pháp dạy ngữ âm môn tiếng Anh trong trường THPT” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi xin đề cập đến phương pháp dạy ngữ âm ở 3 khía cạnh đó là : âm tiết, dấu trọng âm và ngữ điệu trong câu.





II. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Ngôn ngữ, một sản phẩm trí tuệ tuyệt vời của loài người, đã tồn tại dưới hình thức âm thanh ngay từ khi mới xuất hiện và cũng nhờ có ngôn ngữ mà con người giao tiếp được với nhau. Có rất nhiều sinh ngữ (Living languages) tồn tại trên thế giới và tiếng Anh được chọn là một trong những ngôn ngữ giao tiếp quốc tế, do đó nó có phạm vi sử dụng rộng khắp thế giới. Xu hướng dạy tiếng Anh hiện nay là nhằm đạt được mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp cho người học (communicative competence). Vì thế, nếu người học chỉ mới có kiến thức nền về ngữ pháp (grammatical) và từ vựng (lexical) thì cũng chưa chắc đã có kỹ năng tốt về sử dụng kiến thức đó trong giao tiếp vì giao tiếp đòi hỏi con người phải có thêm năng lực về sử dụng ngôn ngữ (linguistic competence).
Ngay từ khi từ khi mới xuất hiện, ngôn ngữ đã tồn tại dưới hình thức âm thanh. Con người giao tiếp được với nhau chính là nhờ hình thức vật chất này. Mặt âm thanh đã làm nên tính chất hiện thực của ngôn ngữ. Nói đến ngôn ngữ là nói đến ngôn ngữ bằng âm thanh và hình thức âm thanh của ngôn ngữ được gọi là ngữ âm, ngữ âm là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ, là hình thức tồn tại của ngôn ngữ.
          Ngữ âm học (phonetics) là khoa học nghiên cứu mặt ngữ âm của ngôn ngữ. Tuy nhiên, nó không chỉ nghiên cứu những dòng âm thanh cụ thể của tiếng nói mà còn cả những đơn vị ngữ âm, những quy luật tổ chức, kết hợp các âm… Ngoài ra, ngữ âm học còn nghiên cứu cả chữ viết – một phương tiện ghi lại ngôn ngữ. Kiến thức ngữ âm học rất cần cho việc dạy và học ngoại ngữ. Nếu người dạy có những tri thức vững chắc về ngữ âm học và người học cũng có những khái niệm tối thiểu về môn này thì kết quả học tập sẽ tốt hơn, bởi vì người học không đơn thuần "bắt chước" lối phát âm của giáo viên hay người nước ngoài mà tiếp thu nó một cách có ý thức, dựa trên sự so sánh cấu âm của tiếng ngoại quốc với tiếng mẹ đẻ của mình.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Học sinh tại trường THPT Hoàng Diệu của chúng tôi đa số là học sinh sống tại vùng nông thôn, nên đời sống, sinh hoạt của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Phần lớn các em là học sinh con nhà nghèo, còn lam lũ, nhiều em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không có người quan tâm kèm cặp ở nhà. Qua thực tế ở trường, cụ thể là những bài kiểm tra định kỳ (15 phút, 1 tiết), các bài thi chung do nhà trường ra đề thì chất lượng bài kiểm tra về phần ngữ âm của học sinh chưa cao. Trong khi một số em khá giỏi tỏ ra rất hứng thú với bộ môn này thì một bộ phận những em yếu kém vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng nên dễ dẫn đến các em trốn học, nghỉ học hay chán nản không muốn học bộ môn này. Những học sinh yếu, kém khi tiếp xúc với hình thức đề kiểm tra hoặc đề thi thì các em thường không đạt điểm cao trong dạng bài ngữ âm. Ví dụ như dạng bài : “Choose one word whose underlined part is pronunced diferently from the rest in the following sentences” hoặc “Choose one option A,B,C, or D corresponding to the word whose main stress is on the syllable in the position which is different from that of the others.” Với các dạng bài tập như thế này, hầu hết học sinh yếu, kém thường làm sai, khoanh đáp án nhưng không biết có đúng hay không hoặc bỏ trống không ghi gì cả….Trước tình hình trên đòi hỏi người giáo viên đứng lớp phải suy nghĩ bằng nhiều cách để nâng cao chất lượng bộ môn nói chung và phần ngữ âm nói riêng ngày một cao hơn.
Qua thực tế giảng dạy ở trường, tôi nhận thấy khả năng đọc và phát âm của một số em tương đối tốt, song bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh đọc và phát âm chưa được tốt nên khi phát âm ra sợ sai .Cũng vì từ chỗ học sinh phát âm sai, dẫn đến phần đánh dấu trọng âm và ngữ điệu cũng bị sai theo. Để có biện pháp, phương pháp dạy về cách đọc -nói và phát âm tốt, khắc phục những sai sót đó tôi đã tiến hành khảo sát từ đầu năm học để phân loại đối tượng học sinh nhằm biết được học lực từng em để tiện theo dõi và giúp đỡ. Sau đây là bảng theo dõi học lực môn Tiếng Anh phần ngữ âm của 2 lớp 10A4 và 10C6 (năm học 2013 -2014) mà tôi đang phụ trách.
Lớp
Học Lực
Giỏi
%
Khá
%
TB
%
Yếu
%
10A4
2
4,4
22
48,9
18
40
3
6,7
10C6
0
0
2
4,5
20
44,4
23
51,1

          Thực tế, ngữ âm tiếng Anh là một vấn đề lớn trong việc dạy tiếng Anh ở các trường phổ thông Việt Nam nói chung, ở trường THPT Hoàng Diệu nói riêng. Nó gây rất nhiều khó khăn trong việc dạy nghe và phát triển kỹ năng nghe, nói của học sinh. Học sinh rất hay mắc lỗi trong việc phát âm tiếng Anh. “Những lỗi phát âm thông thường nào học sinh hay mắc phải?, tại sao các em lại mắc lỗi? Làm thế nào để giải quyết vấn đề này?”- đây chính là những vấn đề mà tôi muốn được chia sẻ với các đồng nghiệp trong đề tài nghiên cứu này.






B. PHẦN NỘI DUNG
I. TÌM HIỂU VỀ NGỮ ÂM TIẾNG ANH
Vậy ngữ âm là gì ? - Đó là học ngữ điệu và âm thanh. Bất kỳ ngôn ngữ nào đều có ngữ điệu và âm thanh riêng. Ở Việt Nam nói riêng và rất nhiều quốc gia trên thế giới nói chung, người học tiếng Anh cảm thấy khó phát âm chuẩn như người bản xứ vì ngữ điệu và âm thanh của Tiếng Anh khác với tiếng mẹ đẻ của họ. Những nhân tố chính gây nên khó khăn này có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, âm mới. Trong Tiếng Anh xuất hiện một số âm mà trong tiếng mẹ đẻ không có, và chúng làm cho người học cảm thấy khó có thể phát âm chuẩn được. Hãy lấy ví dụ với /∫/. Khi được nghe qua về cách đọc của phụ âm này thì người học cho rằng thật dễ, song thực tế lại hoàn toàn khác. Có không ít người không thể phát âm đúng và dễ dàng nản lòng với cách đọc của chỉ một âm, chứ chưa nói đến những âm khác.
Thứ hai, cách phát âm bị "Việt hoá". Vốn đã quen với cách phát âm trong tiếng Việt, nên các bộ phận tạo nên âm thanh, đặc biệt như lưỡi, môi, răng rất khó điều chỉnh để phát âm đúng trong Tiếng Anh. Bản thân người học thấy bất lực trong việc điều khiển chúng theo ý muốn của mình. Khi bạn muốn đặt một chút đầu lưỡi giữa hai hàm răng để phát âm âm /ð/ thì răng cứ míp chặt và lưỡi lại thụt vào trong...
Thứ ba, trọng âm của từ. Trong Tiếng Anh, với những từ có 2 âm tiết trở lên thì đều có trọng âm. Trọng âm của từ sẽ rơi vào một trong những âm tiết nhất định, và âm tiết đó sẽ được đọc nhấn mạnh hơn so với những âm tiết còn lại. Trong tiếng Việt của chúng ta không có trọng âm của từ, vì từ trong tiếng Việt là những từ có 1 âm tiết. Và đây lại là một khó khăn khác với người học.
Thứ tư, ngữ điệu của câu. Ngữ điệu của câu trong tiếng Anh rất đa dạng và phong phú. Có thể cùng một câu nói, nhưng chúng ta có thể lên giọng, hoặc xuống giọng ở cuối câu nhằm chuyển tải thông tin khác nhau đến người nghe.  Người nói đã quen với cách lên xuống của câu trong tiếng Việt, nên khi chuyển sang tiếng Anh, không ít thì nhiều, ngữ điệu của câu trong tiếng Việt sẽ ảnh hưởng sang tiếng Anh, hoặc nếu không, sẽ mất rất nhiều thời gian để học và sửa.
Nhìn chung khi học ngữ âm của một ngoại ngữ chúng ta không thể tránh khỏi những khó khăn nhất định về ngữ điệu và âm thanh. Song, điều quan trọng là làm thế nào để khắc phục chúng và đạt được mục đích cuối cùng là sử dụng ngôn ngữ đó như một ngôn ngữ hai. Sự cố gắng, kiên trì và không nản lòng đã giúp cho nhiều người thành công trong học ngoại ngữ.
Vì vậy, để giúp học sinh THPT cảm thấy dễ dàng hơn trong việc học ngữ âm tôi đã mạnh dạn áp dụng một số phương pháp mà tôi đã rút ra được trong những năm dạy học của mình. Trong phần ngữ âm ở cấp THPT chủ yếu chia ra làm 3 dạng: phát âm và trọng âm (dấu nhấn), ngữ điệu trong câu.
II. DẠY ÂM TIẾT (Teaching sounds):
          Để thực hiện tốt phần dạy âm tiết, bất cứ giáo viên nào cũng phải nắm vững nguyên lý “sản xuất” ra âm thanh (bộ phận cấu âm) và hệ thống phiên âm trong tiếng Anh. Bộ phận cấu âm được minh họa như hình vẽ dưới đây:
Các bộ phận cấu âm:
Labial: Môi
Dental: Răng
Alveolar: Hốc chân răng
Palatal: Vòm miệng
Velar: Ngạc mềm
Uvular: Lưỡi gà (trên cổ họng)
Pharyngal: Cổ họng
Glottal: Thanh môn



Các bộ phân cấu âm tạo ra các âm tiết sau:
1. Âm môi – môi             2. Âm môi – răng            3. Âm răng và khe răng
4. Âm hốc chân răng       5.       a.Âm uốn lưỡi
b. Âm vòm miệng-hốc chân răng
6. Ngạc cứng (âm vòm miệng)   7. Âm ngạc mềm   8. Âm cuống họng
9. Âm hầu

Cơ chế phát âm
Cơ chế phát âm

Trong lý thuyết tiếng, bộ môn “Phonetics” – Ngữ âm học cung cấp cho chúng ta kiến thức cơ bản về bộ phận cấu âm, nhờ nắm rõ các cơ quan tạo nên âm trong quá trình phát âm mà chúng ta có thể phát âm chuẩn, nhất là các âm tiết khó không có trong Tiếng Việt.
          Song song với việc nắm rõ bộ phận cấu âm, thì tất cả mọi người khi bắt đầu học ngoại ngữ đều phải học các quy tắc phát âm, điều này rất quan trọng trong việc phát âm một cách chính xác. Mục đích chính của việc học ngoại ngữ là để có thể giao tiếp với mọi người, nhưng phát âm tồi có thể gây ra nhiều hiểu nhầm không đáng có. Chính vì vậy, ngay từ tiết đầu tiên trong chương trình Tiếng Anh 10 (an introduction to English 10), tôi đã dành nhiều thời gian để giới thiệu cho các em biết qua về các ký hiệu phiên âm quốc tế mà các em sẽ phải làm quen trong quá trình học môn Tiếng Anh.
Sau đây là bảng gồm các ký hiệu phiên âm quốc tế trong Tiếng Anh
Hệ thống phiên âm trên bao gồm 12 nguyên âm đơn (pure vowels), 8 nhị trùng âm (diphthongs) và 24 phụ âm (consonants). Cụ thể:
          * Nguyên âm đơn (pure vowels):
- Âm dài (long vowels): /i:/, /u:/, /ɔ:/, /ɜ:/, /a:/.
- Âm ngắn (short vowels): /ɪ/, /ʊ/, /ɒ/, /ə/, /ʌ/, /æ/, /e/.
 * Nhị trùng âm (diphthongs): /ɪə/, /eə/, /ʊə/, /eɪ/, /aɪ/, /ɔɪ/, /əʊ/, /aʊ/.
          * Phụ âm (consonants):
- Âm bùng (Plosives): /p/, /b/, /t/, /d/, /k/, /ɡ/.
- Âm xát (Fricatives): /ƒ/, /v/, /θ/, /ð/, /s/, /z/, /ʃ/, /ʓ/,  /h/.
- Âm tắc xát (Affricates): /tʃ/, /dʓ/.
- Âm mũi (Nasals): /m/, /n/, /ŋ/.
- Âm bên (Lateral): /l/.
- Bán phụ âm (Approximants/ Semi-vowels): /j/, /w/, /r/.  
                                      Bảng âm tiết trong Tiếng Anh
Trên cơ sở nắm chắc bộ phận cấu âm, hệ thống phiên âm và cách phát âm, bản thân tôi đã hệ thống cách dạy 1 âm bất kỳ như sau:
1. Giới thiệu âm (Presenting a sound):
          1.1 Giáo viên đọc âm cần học đứng độc lập (say the sound alone), học sinh nghe. Để học sinh nghe rõ, giáo viên có thể lặp đi lặp lại nhiều lần.
          Ví dụ: /ə/, /ʃ/
1.2 Giáo viên đọc âm cần học xuất hiện trong một từ vựng (say the sound in a word), học sinh nghe. Giáo viên nên lưu ý sử dụng nhiều từ đơn, trong đó âm cần dạy xuất hiện ở các vị trí khác nhau của từ: âm đầu (initial), âm giữa (media) và âm cuối (final).
          Ví dụ:
          - Khi dạy âm /ə/, giáo viên có thể cho các từ sau:
          Alone /ə’ləʊn/ : có âm /ə/ là âm đầu.
          Teacher /’ti:tʃə/ : có âm /ə/ là âm cuối.
          Amateur /’æmətə/ : có âm /ə/ là âm giữa.
          - Khi dạy âm /ʃ/, giáo viên có thể cho các từ sau:
          She /ʃi:/ : có âm /ʃ/ là âm đầu.
          Wash /wɒʃ/ : có âm /ʃ/ là âm cuối.
          Washing /’wɒʃɪŋ/ : có âm /ʃ/ là âm giữa.
1.3 Giáo viên đọc mẫu, học sinh đọc theo các nội dung mà giáo viên đã làm mẫu ở bước (1.1) và (1.2); tuần tự từ đồng thanh đến cá nhân (Conduct the repetition chorally and individually). Giáo viên lưu ý kiểm tra, chữa lỗi.
1.4 Giáo viên diễn tả nguyên lý phát âm của âm cần dạy bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh đơn giản (Explain how to make the sound in Vietnamese or simple English). Học sinh làm theo. Theo tôi bước này là cần thiết vì ở bước (1.3), có thể giáo viên chữa lỗi chưa triệt để hoặc học sinh chỉ tập theo cảm tính chứ chưa nắm được nguyên lý phát âm.
          Ví dụ:
          - /ə/ : Phần giữa của lưỡi nâng cao lên vị trí giữa khoang miệng; hai môi và hai hàm mở vừa; âm phát ra ở vị trí giữa khoang miệng, ngắn và thoải mái (giống âm ơ trong tiếng Việt).
          - /ʃ/ : Đầu trước của lưỡi kéo cong lên, uốn về phía sau, gần chạm vào phần giữa nướu lợi và ngạc cứng; hai môi mở hẹp; luồng hơi đi từ cổ ra bị chặn bởi đầu lưỡi cong lên tạo thành tiếng cọ xát nghe rất rõ mà ta hay gọi là tiếng gió (gần giống âm s trong tiếng Việt nhưng dài hơn).
1.5 So sánh âm đang dạy với âm tương tự (contrast it with a similar sound). Khi so sánh, tốt nhất là giáo viên nên chọn âm dễ hơn so với âm đang học hoặc âm mà học sinh đã học qua, âm được chọn phải có nguyên lý phát âm tương tự như âm đang học nhưng khác nhau ở một điểm nhỏ nhằm giúp học sinh phân biệt được các âm tương tự nhau.
Ví dụ:
          - /ə/ với /ɜ:/, /e/ với /æ/, /ɪ/ với /i:/
- /s/ với /ʃ/, /p/ với /b/, /θ/ với /ð/
          * Lưu ý: Khi thực hiện tất cả các bước trong phần này, giáo viên không nên ghi từ lên bảng để không gây nhầm lẫn giữa ký hiệu phiên âm và chữ cái. Nội dung cần được nhấn mạnh ở đây là cách phát âm chứ không phải chính tả.
2. Luyện tập âm (Practising a sound):
          Luyện tập ngữ âm có hai bước:
      2.1  Luyện tập nghe và nhận biết âm (Aural practice):
          Ở bước này, tốt nhất giáo viên nên dùng những cặp từ chỉ khác nhau ở một ký hiệu phiên âm (Minimal pairs). Ký hiệu phiên âm khác nhau giữa hai từ chính là âm mà giáo viên muốn học sinh phân biệt. Giáo viên có thể hỏi cả lớp hoặc chỉ vào từng cá nhân học sinh yêu cầu trả lời.
          Ví dụ:          match /mætʃ/         -        mash /mæʃ/           (giữa /tʃ/ với /ʃ/)                        seat /si:t/                -        sit /sɪt/                  (giữa /i:/ với /ɪ/)
                             man /mæn/            -        men /men/             (giữa /æ/ với /e/)
                             big /bɪɡ/               -        pig /pɪɡ/               (giữa /b/ với /p/)
Có hai dạng bài tập áp dụng với những cặp từ như trên:
2.1.1 Bài tập (1) hay (2) (One or Two drill):
          Giáo viên chia bảng thành hai cột (1) và (2), sau đó ghi vào hai cột hai âm cần học sinh phân biệt. Giáo viên đọc (không ghi lên bảng) một số từ chứa hai âm đã ghi cho học sinh nghe; từ nào có âm ở cột (1), học sinh sẽ đáp lại “One”; từ nào có âm ở cột (2), học sinh sẽ đáp lại “Two”. Giáo viên có thể hỏi cả lớp hoặc chỉ vào từng cá nhân học sinh yêu cầu trả lời.
Ví dụ: Muốn phân biệt hai âm /æ/ và /e/, giáo viên chia bảng thành hai cột:
(1)
(2)
/æ/
/e/
         
Giáo viên:    man /mæn/            -        Học sinh:     One
Giáo viên:    men /men/             -        Học sinh:     Two
Giáo viên:    hand /hænd/          -        Học sinh:     One
Giáo viên:    can /kæn/              -        Học sinh:     One
Giáo viên:    send /send/            -        Học sinh:     Two
          2.1.2 Bài tập giống nhau, khác nhau (Same or Different drill):
          Giáo viên đọc từng cặp từ, học sinh nghe, mỗi cặp từ chứa các âm học sinh cần phân biệt. Khi cặp từ giống nhau, học sinh đáp lại “Same”; khi cặp từ chứa âm khác nhau, học sinh đáp lại “Different”.
          Ví dụ:
          Giáo viên:    bad /bæd/, bed /bed/                 -        Học sinh:     Different
          Giáo viên:    see /si:/, sea /si:/                        -        Học sinh:     Same
          Giáo viên:    too /tu:/, two /tu:/                      -        Học sinh:     Same
          Giáo viên:    match /mætʃ/, mash /mæʃ/        -        Học sinh:     Different
          Giáo viên:    sand /sænd/, send /send/           -        Học sinh:     Different
   2.2 Bài tập luyện nói (Oral practice):
          Giáo viên đọc mẫu rồi điều khiển cho học sinh đọc theo, tuần tự từ đồng thanh (chorally) đến cá nhân (individually), theo các bước sau:
2.2.1 Đọc lại âm cần học đứng độc lập (say the sound alone) như ở phần Presenting a sound.
2.2.2 Đọc âm cần học xuất hiện trong một từ vựng (say the sound in a word), giáo viên nên lưu ý sử dụng nhiều từ đơn, trong đó âm cần dạy xuất hiện ở các vị trí khác nhau của từ: âm đầu (initial), âm giữa (media) và âm cuối (final) (như ở phần Presenting a sound).
2.2.3 Đọc âm cần học xuất hiện trong một hoặc nhiều cụm từ (say the sound in a phrase), các cụm từ này cần chứa những từ vựng đã đọc ở bước (1.2).
2.2.4 Đọc âm cần học xuất hiện trong một hoặc nhiều câu (say the sound in a sentence), các câu này cần chứa những cụm từ đã đọc ở bước (1.3).
          Ví dụ: Muốn luyện tập âm /ʃ/, giáo viên phải làm như sau:
          - Giáo viên đọc: /ʃ/, học sinh đọc theo.
          - Giáo viên đọc: she /ʃi:/, học sinh đọc theo. Tương tự như vậy với wash /wɒʃ/ và washing /’wɒʃɪŋ/.
          - Giáo viên đọc: she has, học sinh đọc theo. Tương tự như vậy với wash carefully, washing up.
          - Giáo viên đọc: She has a sheep. Học sinh đọc theo. Tương tự:
                                 They wash the car carefully.
                                  I am doing the washing up.


III. DẠY TRỌNG ÂM (Teaching stress):
          Muốn học sinh hiểu rõ về trọng âm, giáo viên phải dạy những vấn đề sau:
1. Định nghĩa trọng âm (The nature of stress):
Trọng âm là sự phát âm một từ (word) hay một âm tiết (syllable) được nhấn mạnh hơn, dùng nhiều lực hơn so với những từ hay âm tiết khác xung quanh nó. Từ hay âm tiết được đặt trọng âm chính thường được phát âm to hơn, dài hơn, cao hơn những từ hoặc âm tiết không được đặt trọng âm.
Ví dụ: student /’stju:dənt/ có trọng âm chính đặt ở âm tiết đầu, vì thế khi đọc, âm tiết /stju:/ phải được đọc mạnh hơn, cao hơn và kéo dài hơn so với âm tiết /dənt/.
2. Các cấp độ của trọng âm (Levels of stress):
          Có ba cấp độ chính: trọng âm chính (primary stress), trọng âm thứ hai (secondary stress) và âm yếu (weak form / tertiary). Đối với trình độ của học sinh THPT, giáo viên chỉ yêu cầu nhận ra trọng âm chính (primary stress) .
3. Quy luật đặt trọng âm (The placement of stress):
3.1 Trọng âm của từ (Word stress):
Tất cả những từ có hai âm tiết trở lên đều phải có trọng âm.
3.1.1 Từ có hai âm tiết (Two-syllable words):
          * Động từ và tính từ chứa nguyên âm dài, âm trượt ở âm tiết thứ hai hoặc động từ tận cùng bằng hai phụ âm trở lên thì trọng âm được đặt vào âm tiết thứ hai.
          Ví dụ: apply /ə’plaɪ/; attract /ə’trækt/ ; alive /ə’laɪv/ ; correct /kə’rekt/
          * Động từ và tính từ chứa nguyên âm ngắn, âm /əʊ/ ở âm tiết thứ hai hoặc tận cùng bằng một phụ âm thì trọng âm được đặt ở âm tiết thứ nhất.
          Ví dụ: enter /’entə/ ; open /’əʊpən/ ; equal /’i:kwəl/ ; borrow /’borəʊ/ ;
 even /’ɪvən/ ; hollow /’holəʊ/
(Ngoại lệ: permit, admit, commit, honest, perfect có trọng âm ở âm tiết đầu tiên)
* Danh từ chứa nguyên âm ngắn ở âm tiết thứ hai thì trọng âm được đặt vào âm tiết thứ nhất, các trường hợp khác trọng âm được đặt ở âm tiết thứ hai.
Ví dụ: money /’mʌnɪ/ ; product /’prodʌkt/ ; balloon /bə’lu:n/ ;
* Trạng từ và giới từ áp dụng giống như cách dùng tính từ.
3.1.2 Từ có ba âm tiết (Three-syllable words):
          * Động từ chứa nguyên âm ngắn ở âm tiết cuối và tận cùng bằng một phụ âm trở xuống thì trọng âm được đặt vào âm tiết giữa.
          Ví dụ: encounter /ɪŋ’kaʊntə/ ; determine /dɪ’tɜ:mɪn/
          * Động từ chứa nguyên âm dài, âm trượt ở âm tiết cuối hoặc tận cùng bằng hai phụ âm trở lên thì trọng âm được đặt ở âm tiết cuối cùng.
          Ví dụ: entertain /entə’teɪn/ ; resurrect /rezə’rekt/
          * Danh từ chứa nguyên âm ngắn, âm /əʊ/ ở âm tiết cuối, danh từ có chứa nguyên âm dài, âm trượt ở âm tiết giữa hoặc tận cùng bằng hai phụ âm trở lên thì trọng âm được đặt vào âm tiết giữa.
          Ví dụ: mimosa /mɪməʊzə/ ; disaster /dɪ’za:stə/ ; potato /pə’teɪʊ/
          * Danh từ chứa nguyên âm ngắn ở âm tiết cuối và âm tiết giữa, tận cùng bằng một phụ âm trở xuống; danh từ chứa nguyên âm dài, âm trượt ở âm tiết cuối, tận cùng bằng hai phụ âm trở lên thì trọng âm được đặt ở âm tiết đầu tiên.
          Ví dụ: quantity /’kwontɪtɪ/ ; emperor /’empərə/ ; cinema /’sɪnəmə/
                     intellect /’ɪtəlekt/ ; marigold /‘mærɪɡəʊld/
          * Tính từ áp dụng như danh từ.
3.1.3 Từ phức (Compex words):
          * Một số phụ tố làm thay đổi nghĩa của từ được đặt trọng âm.
          Ví dụ: semicircle /’semɪsɜ:kl/ ; personality /pəsn’ælɪtɪ/
          * Một số phụ tố không làm thay đổi nghĩa của từ thì không được đặt trọng âm.
          Ví dụ: market /’ma:kɪt/ - marketing /’ma:kɪtɪŋ/ ;
                     pleasant /’pleznt/ - unpleasant /ʌn’pleznt/
          * Một số phụ tố khi thêm vào làm dịch chuyển trọng âm của từ gốc.
          Ví dụ: magnet /’mæɡnət/ - magnetic /mæɡ’netɪk/
          * Sáu hậu tố luôn được đặt trọng âm: -ain; -ee; -eer; -ese; -ette; -esque;
          Ví dụ: enter /’entə/ - entertain /entə’teɪn/
                     employ /ɪmp’lɔɪ/ - employee /ɪmplɔɪɪ/                 
 mountain /’maʊntɪn/ - mountaineer /maʊntɪnɪə/
          * Đa số tiền tố không được đặt trọng âm.
3.1.4 Từ ghép (Compound words):
          * Một chi tiết khác ghép với một danh từ thì trọng âm được đặt ở chi tiết đầu tiên.
          Ví dụ:
typewriter /’taɪpraɪtə/ ; fruit-cake /’fru:t keɪk/
          * Ghép một tính từ với một chi tiết tận cùng bằng “ed”; chi tiết chỉ số lượng ghép với một chi tiết khác; từ ghép có vai trò như một trạng từ; từ ghép có vai trò như một động từ với chi tiết đầu là trạng từ thì trọng âm được đặt ở chi tiết thứ hai.
          Ví dụ: heavy-handed /hevɪ’hændɪd/ ; bad-tempered /bæd’tempəd/
                     five-finger /faɪv’fɪŋɡə/ ; second-class /sekən’kla:s/
                     down-grade /daʊn’greɪd/ ; North-East /nɔ:θ’i:st/
3.2 Trọng âm của câu (Sentence stress):
          Trong một câu, từ nào được đặt trọng âm, từ nào không được đặt trọng âm? Câu trả lời là:
          - Những từ chứa nội dung (content words), hình ảnh (picture words), cung cấp thông tin chính trong câu thì được đặt trọng âm. Những từ này thường là danh từ (nouns), động từ (verbs), tính từ (adjectives), trạng từ (adverbs).
          - Những từ chức năng (functional words / grammatical words) thì không được đặt trọng âm. Những từ này thường là đại từ (pronouns), giới từ (prepositions), mạo từ (articles).
          Ví dụ: - I am a teacher. – Chỉ có từ “I” và “teacher” được đặt trọng âm.
                     /aɪ əm ə ’ti:tʃə/
                     - They are going to visit Hue. – Các từ “they”, “going”, “visit” và “Hue” được đặt trọng âm.
                     /ðeɪ ər ’ɡəʊɪŋ tə ’vɪzɪt ’hue/
4. Cách dùng bảng để phân tích trọng âm:
          Có nhiều cách phân tích trọng âm như: dùng giọng nói (voice); dùng điệu bộ (gestures) chẳng hạn đập hai tay vào nhau (punch palm), vỗ tay (clap hands), gõ tay vào vật khác (bang something with hands), chặt không khí (thump the air); dùng bảng (blackboard). Theo tôi, khoa học nhất, dễ hiểu nhất là cách dùng bảng.
          Có nhiều cách để biểu diễn ký hiệu trọng âm lên bảng như: ô vuông (ô vuông lớn chỉ âm tiết được đặt trọng âm, ô vuông nhỏ chỉ âm tiết không được đặt trọng âm); vòng tròn (lớn, nhỏ tương tự như ô vuông); gạch chân âm tiết được đặt trọng âm; dùng phấn khác màu để viết các âm tiết được đặt trọng âm; dùng dấu phẩy phía trên âm tiết được đặt trọng âm (như trong từ điển). Cách thông dụng nhất là gạch chân hoặc dùng dấu phẩy phía trên âm tiết được đặt trọng âm.
Ví dụ:
          - teacher /’ti:tʃə/ = teacher hoặc ’teacher.
          - television /’telɪvɪʓn/ = television hoặc ’television
          - potato /pə’teɪʊ/ = potato hoặc po’tato
          - I’ve learnt English for five years.
          - She is doing her homework.
          - Why do we tip hairdressers and taxi drivers but not nurses and shop assistants?

IV. DẠY NGỮ ĐIỆU (Teaching intonation):
1. Định nghĩa ngữ điệu
          Ngữ điệu là sự thể hiện giọng nói ở các mức độ cao thấp khác nhau, thể hiện giọng điệu khi giao tiếp nhằm mục đích mang lại những thông tin, sắc thái tình cảm mà các từ ngữ trong câu không diễn tả được.
2. Phân loại và chức năng của ngữ điệu:
          Có năm loại ngữ liệu tương ứng với các chức năng như sau:
2.1 Xuống giọng (Fall) – Ký hiệu: \
          Dùng trong câu khẳng định (definition); câu nói chấm dứt một tình huống hay ngữ cảnh (finality).
          Ví dụ:
          - A:    Do you know John Smith?
            B:    No.   
- That is the end of the news.
2.2 Lên giọng (Rise) – Ký hiệu: /
          Dùng trong câu hỏi có phải hay không (yes – no questions); khi liệt kê (listing), khẳng định nhấn mạnh một việc đã làm (more to follow); có ý đợi người khác nói tiếp (invitation to continue); khuyến khích (encouraging).
          Ví dụ:
          - Can you help me?        
          - Red, brown, yellow, or blue. (Xuống giọng ở chi tiết cuối cùng)
          - A:    Turn left at the roundabout …
            B:    Yes?
          2.3 Mở đầu xuống giọng, kết thúc lên giọng (Fall-rise) – Ký hiệu: v
          Dùng trong trường hợp không chắc chắn (uncertainty), nghi ngờ (doubt); yêu cầu (requesting); không hoàn toàn đồng ý (limited agreement / reservation).
          Ví dụ:
v
 
          - You may be right.        
v
 
          - Can I buy it?
2.4 Mở đầu lên giọng, kết thúc xuống giọng (Rise-fall) – Ký hiệu: ʌ
          Dùng trong trường hợp diễn tả cảm xúc mạnh mẽ về sự đồng ý, không đồng ý (strong feeling of approval, disapproval or surpose); bị gây ấn tượng mạnh (being impressed).
          Ví dụ:
          - A:    You wouldn’t do an awful thing like that, would you?
ʌ
 
            B:    No.
          - A:    Isn’t the view lovely?
ʌ
 
            B:    Yes.           
ʌ
 
          - You were first?
2.5 Ngang (Level) – Ký hiệu: –
          Dùng trong trường hợp mô tả về thói quen hay những sự việc nhàm chán (something routine, uninteresting or boring).
          Ví dụ:
          - A:    Helen Wilson?
            B:    Yes.
                
          - A:    I’ll have to pay a 50-dollar member fee per month.
            B:    Practically.
3. Luyện ngữ điệu cho học sinh:
          Để luyện ngữ điệu cho học sinh, tôi dùng thủ thuật Xâu chuỗi ngược (Back -  chaining technique). Đây là thủ thuật giúp học sinh luyện tập ngữ điệu tự nhiên bằng cách đọc câu theo từng phần, bắt đầu ở cuối câu và tuần tự luyện tập ngược về đầu câu.
          Các bước tiến hành thủ thuật Xâu chuỗi ngược:
          - Xác định ngữ điệu chính của cả câu, đánh dấu vào cuối câu bằng mũi tên. (Decide the intonation pattern of the sentence, mark with an arrow).
          - Xác định và đánh dấu vào trọng âm của câu. (Decide the stressed syllables and mark them).
          - Chia câu ra thành từng phần nhỏ. (Divide the sentence into sections).
- Điều khiển học sinh luyện tập từ cuối câu ngược lại đầu câu. (Conduct the repetition from the end towards the beginning).
          Ví dụ: She’s doing her homework.
          - She’s doing her homework.
          - She’s doing her homework.
 


- She’s  doing   her   homework.
          - She’s  doing   her   homework.
 


          Giáo viên: homework.                                  - Học sinh đọc theo.
          Giáo viên: her homework.                             - Học sinh đọc theo.
          Giáo viên: doing her homework.                   - Học sinh đọc theo.
          Giáo viên: She’s doing her homework.          - Học sinh đọc theo.
          * LƯU Ý:
          Âm, trọng âm và ngữ điệu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải biết kết hợp chặt chẽ ba yếu tố trên thì trong quá trình giao tiếp, học sinh mới có giọng nói vừa chuẩn xác, vừa tự nhiên và diễn tả hết được những sắc thái tình cảm trong những tình huống giao tiếp khác nhau.
Sau  một năm học áp dụng các phương pháp, thủ thuật dạy ngữ âm cùng với việc thường xuyên tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, bản thân tôi cũng kiểm chứng sau từng bài đã áp dụng để tìm ra ưu điểm, hạn chế, từ đó có thể thực hiện tốt hơn cho những bài sau. Tôi thấy học sinh của mình có sự tiến bộ khả quan trong việc mở rộng vốn từ, cách phát âm và sử dụng từ vựng - ngữ âm. Tôi đã tiến hành khảo sát trong một số tiết dạy và thu được kết quả như sau (Tại Lớp 10A4 năm học 2013-2014)
Bài
Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm 3-4
Điểm 0-2
Số 1
0
0
17
13
15
Số 2
0
2
15
20
8
Số 3
0
5
30
10
0
Số 4
4
12
22
7
0

Kết quả ấy được phản ánh rõ qua các bài kiểm tra về ngữ âm, học sinh hầu như đều đạt điểm TB ở phần ngữ âm từ 60% trở lên trong bài viết số 4  .
Kết quả này khác hoàn toàn so với trước kia. Thậm chí trước đây khi giáo viên ra đề kiểm tra ngữ âm, trọng âm  học sinh đều bỏ trống, hoặc làm cho qua chuyện. Việc các em phát âm chuẩn sẽ dẫn đến việc các em viết tốt, nên tôi cũng không phải lo lắng nhiều trong việc rèn luyện kỹ năng viết cho các em.
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
* Đối với nhà trường: Hiện nay nhà trường chưa có phòng học tiếng riêng biệt dành cho bộ môn tiếng Anh, nếu điều này được quan tâm thì học sinh sẽ có khả năng phát triển kỹ năng ngữ âm, qua đó kỹ năng nói của các em chắc chắn cũng sẽ được nâng cao.
* Đối với sở GD & ĐT
Để giáo viên nâng cao năng lực giảng dạy ngữ âm, việc tổ chức các lớp tập huấn về nội dung này với các giảng viên trường Đại học chuyên ngữ, giảng viên người nước ngoài rất cần thiết và thiết thực. Thông qua tập huấn, giáo viên có cơ hội để thực hành, tự đánh giá khả năng của bản thân, học hỏi từ giảng viên và các đồng nghiệp nhằm nâng cao trình độ.
 

C. PHẦN KẾT LUẬN
Tìm “Phương pháp dạy ngữ âm môn tiếng Anh trong trường THPT” là vấn đề tôi nghĩ mọi giáo viên bộ môn Tiếng Anh THPT đều quan tâm. Các giáo viên bộ môn Anh văn nói riêng và tất cả giáo viên bộ môn tiếng Anh ở trường THPT Hoàng Diệu nói chung cũng đã áp dụng toàn bộ hoặc một số biện pháp tương tự như trên. Nhưng muốn thành công trong việc nâng cao chất lượng học tập kỹ năng ngữ âm của học sinh ở bộ môn mình đồng đều, giáo viên đóng vai trò quyết định, vì thực hiện các biện pháp trên rất mất thời gian, và kéo dài cả năm học, giáo viên phải kiên trì với quyết tâm ”Tất cả vì học sinh thân yêu”. Làm được như thế chắc chắn chúng ta sẽ được đền bù xứng đáng từ những “sản phẩm yếu kém” đầu năm của chúng ta đến cuối năm trở nên khá hoàn hảo.
Đồng thời, sau thời gian thực hiện đề tài Phương pháp dạy ngữ âm môn tiếng Anh trong trường THPT  tôi đã rút ra một số kinh nghiệm về nội dung dạy ngữ âm -  từ vựng - giao tiếp. Cụ thể như sau:
          1. Luôn xác định dạy học sinh giao tiếp bằng tiếng Anh là đích của dạy ngoại ngữ.
          2. Ngoài dạy học sinh ‎nghĩa, cách sử dụng phải hướng dẫn cách phát âm có sử dụng dấu trọng âm từ đó. Lưu ý các em vị trí, độ cao của một số nguyên âm để các em vận dụng khi bật âm trong các từ.
          3. Thường xuyên động viên khuyến khích, tạo môi trường và không khí học ngoại ngữ cho học sinh.
          4. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, thiết kế nhiều bài tập luyện nói, nhiều thủ thuật huy động vốn từ, thường xuyên kết hợp dạy từ vựng-ngữ âm để học sinh được thực hành nhiều.
          5. Mở rộng và nâng cao với học sinh khá - giỏi các kiến thức về trọng âm từ, trọng âm câu, mức độ nghĩa của từ để các em có thể sử dụng chúng chính xác trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
          Qua đề tài nghiên cứu này, chắc chắn tôi chưa đưa ra được hết các biện pháp nâng cao chất lượng học tập kỹ năng ngữ âm của học sinh, nhất là học sinh yếu kém. Rất mong nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo cấp trên, ý kiến đóng góp xây dựng của quý đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm, học hỏi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân.
          Rất chân thành cảm ơn sự quan tâm của Ban Giám Hiệu nhà trường, quý Thầy cô trong tổ bộ môn đã động viên, cổ vũ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này.
                                                       Điện Bàn, ngày 10 tháng 3 năm 2014
                                                                        Người thực hiện



                                                   Lương Tiến Dũng










PHỤ LỤC PHIẾU KHẢO SÁT
1.     Âm nào sau đây em thấy khó trong phát âm? (Các em có thể chọn nhiều hơn 1)

Vì sao em lại thấy nó khó?
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………................................................................................
2. Theo em, các âm cuối của các từ sau đây đọc thế nào? (Hãy đánh dấu V vào bảng)

/id/
/t/
/d/

/id/
/t/
/d/
Wanted



Laughed



Hoped



Faxed



Watched



Needed



Lined



Played




  
    3. Theo em, các âm cuối của các từ sau đây đọc thế nào? (Hãy đánh dấu V vào bảng)

/s/
/z/
/iz/

/s/
/z/
/iz/
Ropes



Girls



Booths



Languages



Watches



Tomatoes



Gloves



Cliffs




4. Theo em, các từ sau được phát âm thế nào? (Chọn 1 trong 2 cách)
Singer                   /'siηə/                              /'siηgə/
Pizza                     /'pi:zə/                             /'pi:stə/
Hello                     /hə'lou/                            /he'lou/
Preparation            /,prepə'rei∫n/                    /,pripæ'rei∫n/
Totality                 /tou'tæləti/                       /tou'touləti/
Situation                /,sitju:'ei∫n/                       /,sit∫u'ei∫n/
                   Plumber                /'plʌ/                          /'plʌmbə/








TÀI LIỆU THAM KHẢO
         ---o0o---

                                      Bằng tiếng Việt:
1.   Võ Đại Quang - Một số vấn đề cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng và âm vị học
( Nhà xuất bản văn hóa thông tin )
2.  Trần Thị Ái Thanh - Hồ Thị Tân Hoa: Thiết kế bài giảng tiếng Anh lớp 12
( Chương trình chuẩn – Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội)
                                                                       
                                             Bằng tiếng Anh:
 1. Assoc. Pro. Dr. Vo Dai Quang. Lectures on principles of English phonetics and phonology
 2. Quang, Vo Dai & Tam, Ha Cam ( 2004)- Lecttures on English phonetics and
    Phonology-CFL-VNUH ( For International distribution)
 3.  Peter Roach . English Phonetics and Phonology – Practical course
                              ( Cambridge University Press )


      
                                                                                       Trang
A.PHẦN MỞ ĐẦU                                                   1
               I. Đặt vấn đề                                                                            1
               II. Cơ sở lý luận                                                                       3
               III. Cơ sở thực tiễn                                                                   4
    B. PHẦN NỘI DUNG                                               6
              I.  Tìm hiểu về ngữ âm tiếng Anh                                             6
              II. Dạy âm tiết                                                                         7
                         1. Giới thiệu âm tiết                                                           11
                     2. Luyện tập âm                                                                13
                III. Dạy trọng âm                                                                     16
                      1. Định nghĩa trọng âm                                                      16
                     2. Các cấp độ của trọng âm                                                16
                     3. Quy luật đặt trọng âm                                                     16
                     4. Cách dùng bảng để phân tích trọng âm                           19
              IV.  Dạy ngữ điệu                                                                     20
                      1. Định nghĩa ngữ điệu                                                       20
                      2. Phân loại và chức năng của ngữ điệu                               20
                      3. Luyện ngữ điệu cho học sinh                                          22
              V.    Kết quả thực hiện                                                               23
              VI.  Kiến nghị, đề xuất                                                              24
        C. PHẦN KẾT LUẬN                                               25

TÀI LIỆU THAM KHẢO                                                  29

MỤC LỤC                                                                                 30

Mẫu SK3
 
 


PHIẾU CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2013 - 2014
-----------------------------------
(Dành cho người tham gia đánh giá xếp loại SKKN)

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
TRƯỜNG THPT HOÀNG DIỆU

- Đề tài: PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM MÔN TIẾNG ANH TRONG
              TRƯỜNG THPT     
- Họ và tên tác giả: LƯƠNG TIẾN DŨNG
- Đơn vị: THPT HOÀNG DIỆU
- Họ tên người thẩm định:..........................................................................................................................
- Điểm cụ thể:
 
Phần
Nhận xét
của người đánh giá xếp loại đề tài
Điểm tối đa
Điểm đạt được
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề

1

3. Cơ sở lý luận


1

4. Cơ sở thực tiễn


2

5. Nội dung nghiên cứu


9

6. Kết quả nghiên cứu


3

7. Kết luận


1

8.Đề nghị
9.Phụ lục

1

10.Tài liệu tham khảo
11.Mục lục
12.Phiếu đánh giá xếp loại

1

Thể thức văn bản, chính tả


1

Tổng cộng

20đ


                 
                                  Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại :
              Người đánh giá xếp loại đề tài:




Mẫu SK3
 
 


PHIẾU CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2013 - 2014
-----------------------------------
(Dành cho người tham gia đánh giá xếp loại SKKN)

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
TRƯỜNG THPT HOÀNG DIỆU

- Đề tài: PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM MÔN TIẾNG ANH TRONG
              TRƯỜNG THPT     
- Họ và tên tác giả: LƯƠNG TIẾN DŨNG
- Đơn vị: THPT HOÀNG DIỆU
- Họ tên người thẩm định:..........................................................................................................................
- Điểm cụ thể:
 
Phần
Nhận xét
của người đánh giá xếp loại đề tài
Điểm tối đa
Điểm đạt được
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề

1

3. Cơ sở lý luận


1

4. Cơ sở thực tiễn


2

5. Nội dung nghiên cứu


9

6. Kết quả nghiên cứu


3

7. Kết luận


1

8.Đề nghị
9.Phụ lục

1

10.Tài liệu tham khảo
11.Mục lục
12.Phiếu đánh giá xếp loại

1

Thể thức văn bản, chính tả


1

Tổng cộng

20đ


                 
                                  Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại :
              Người đánh giá xếp loại đề tài:



Mẫu SK2
 
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2013   - 2014

I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường THPT HOÀNG DIỆU

1. Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ ÂM MÔN TIẾNG ANH TRONG      TRƯỜNG THPT
2. Họ và tên tác giả:    LƯƠNG TIẾN DŨNG
3. Chức vụ: Giáo viên - Tổ: Ngoại Ngữ
4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài:
a) Ưu điểm: ......................................................................................................................
     .....................................................................................................................................
     .....................................................................................................................................
     .....................................................................................................................................
     .....................................................................................................................................

b) Hạn chế: ......................................................................................................................
     .....................................................................................................................................
     .....................................................................................................................................
     .....................................................................................................................................

5. Đánh giá, xếp loại:
            Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường THPT HOÀNG DIỆU
thống nhất xếp loại : .....................
       Những người thẩm định:                                        Chủ tịch HĐKH
            (Ký, ghi rõ họ tên)                                       (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)

............................................................
............................................................
............................................................

II. Đánh giá, xếp loại của HĐKH  Sở GD&ĐT  Quảng Nam
            Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam thống nhất xếp loại: ...............
       Những người thẩm định:                                        Chủ tịch HĐKH
            (Ký, ghi rõ họ tên)                                       (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)

............................................................
............................................................

............................................................
Đọc tiếp…